Đề xuất các giải pháp phòng chống ngập, giảm ngập ở khu vực vòng xoay cổng 11, QL51 theo nguyên nhân gây ngập và kết quả nghiên cứu địa mạo thuỷ văn

Thứ tư - 12/08/2026 20:33
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Lời giới thiệu:
Ngập tại khu vực Vòng xoay Cổng 11, Quốc lộ 51 là vấn đề kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến giao thông và đời sống người dân. Từ góc tiếp cận địa mạo thủy văn, bài nghiên cứu của ThS. Nguyễn Văn Liệt và TS. Vũ Văn Vĩnh phân tích nguyên nhân gây ngập, đồng thời đề xuất một số giải pháp phòng, chống và giảm ngập từ chính đặc điểm địa hình, dòng chảy của khu vực.Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tóm tắt 

Trong vài chục năm gần đây, nhiều tuyến đường, nhiều khu dân cư ở khu vực Biên Hòa bị ngập khi mưa lớn, trong đó có Quốc lộ 51 (QL51). Đoạn QL51 từ Ngã tư Vũng Tàu đến Sông Buông dài 7,5km có 4 đoạn thường bị ngập nặng, trong đó đoạn qua Vòng xoay Cổng 11 (VXC11) là đoạn bị ngập nặng nhất. 

Nghiên cứu tiếp cận địa mạo thủy văn, dựa trên mối quan hệ giữa nước chảy bề mặt, dòng chảy mặt và địa hình; đối chiếu khả năng thoát nước theo địa hình tự nhiên với khả năng thoát nước theo địa hình đã bị biến đổi do tác động của con người. Kết quả cho thấy nguyên nhân chính gây ngập nặng và kéo dài ở VXC11 là do các công trình nhân tạo đã làm thay đổi địa hình nước chảy bề mặt, thu hẹp khẩu độ thoát nước của dòng chảy mặt so với yêu cầu thoát nước tự nhiên. 

Đây là kết quả nghiên cứu bước đầu tại một điểm ngập điển hình. Bài báo cho thấy để phòng chống ngập chủ động, hiệu quả, nghiên cứu địa mạo thủy văn cần được coi trọng, tiến hành đồng bộ với công tác quy hoạch, quản lý, chỉnh trang đô thị, xây dựng, giao thông, thoát nước, chống ngập, du lịch, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững - không chỉ riêng cho VXC11 mà có thể tham khảo, nhân rộng cho các điểm ngập khác có đặc điểm địa hình tương tự.

 1) Tổng quan về hiện trạng, diễn biến ngập ở khu vòng xoay Cổng 11 

Quốc lộ 51, từ Ngã tư Vũng Tàu đến Sông Buông dài 7,5km có 4 đoạn thường bị ngập nặng. Đoạn qua Vòng xoay Cổng 11 (VXC11) là đoạn nằm trong vùng bị ngập nặng nhất. Khi mưa lớn, tập trung, vùng này thường bị ngập sâu 0,5-0,7m, có điểm tới 1,2m (xem hình 1). 

Thời gian ngập từ 1-2 giờ. Ngập hằng năm, mỗi năm một vài lần [5]. Phần bị ngập nặng tính theo diện tích trên 25ha; tính từ VXC11 là 1km về phía Tây theo QL51, 300m về phía Bắc theo đường Bùi Văn Hòa, khoảng 100-300m về phía Đông, Nam và Đông Nam. Cuối tháng 5 đến đầu tháng 6/2026, trong 7 ngày, ngập xảy ra 3 lần trên đoạn qua VXC11; ngày 28/5 nước ngập yên xe, tràn qua dải phân cách [5]. 

Hình 1: Vị trí điểm ngập sâu 1,2m trong hẻm 1423 đường Bùi Văn Hoà

2) Cơ sở khoa học, tài liệu và phương pháp nghiên cứu 

2.1) Cơ sở khoa học: Tiếp cận địa mạo thủy văn dựa trên mối quan hệ giữa nước chảy bề mặt, dòng chảy mặt và địa hình; khả năng thoát nước theo địa hình tự nhiên và khả năng thoát nước theo địa hình đã bị biến đổi do tác động nhân sinh. 

2.2) Cơ sở tài liệu: Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 tháng 9/1974 [2], năm 2002 [3]; bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2.000 năm 2016 [4]; ảnh vệ tinh Google Earth đa kỳ từ tháng 2/2003 đến tháng 7/2026 [1]. Tài liệu khảo sát tháng 7/2026. 

2.3) Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng: phương pháp địa mạo, phương pháp viễn thám, phương pháp khảo sát và thu thập tài liệu ngoài trời, phương pháp bản đồ, phương pháp phân tích - tổng hợp. 

3) Một số kết quả ban đầu 

3.1) Khả năng tiêu thoát nước, ngập nước ở VXC11 theo địa hình tự nhiên VXC11 là vùng hội lưu dòng chảy của sông Long Thành [2] với suối Cầu Vịt (tên gọi theo dân địa phương) và các khe rãnh nhỏ ở sườn phải của thung lũng gần VXC11 (xem hình 2) Sông Long Thành chảy theo hướng Tây Nam, đổ ra sông Đồng Nai, dài 14km. Tính đến Cầu Quan, sông dài 9km, diện tích lưu vực 3285ha, chu vi lưu vực 25km, chênh cao lưu vực 57m, độ dốc lưu vực 6,7 phần nghìn. 

Từ thượng nguồn đến sông Đồng Nai, sông Long Thành có 3 đoạn. Đoạn 1 - thượng lưu, lưu vực dài 7km, độ dốc lưu vực 7,7 phần nghìn, nước tập trung nhanh, thoát nhanh. Đoạn 2 - trung lưu, tính đến Cầu Quan, dài 2km, độ dốc lưu vực 3 phần nghìn, phát triển bãi bồi. Hành lang thoát lũ trên đoạn 2, tính theo chiều rộng của bãi bồi thấp và bãi bồi cao, tăng dần theo hướng dòng chảy, rộng 380m theo mặt cắt qua VXC11. Đoạn 3 - hạ lưu, từ Cầu Quan đến sông Đồng Nai, dài 5km. Hành lang thoát lũ trên đoạn 3 là dải đồng bằng thấp, rộng trên 400-700m (xem hình 2). 

Hình 2: Sơ đồ phân bố các yếu tố liên quan đến ngập, thoát ngập khu Vòng xoay Cổng 11, QL51, Đồng Nai - thể hiện sông Long Thành, suối Cầu Vịt, các khe rãnh/dòng tạm thời, đoạn suối bị chặn lấp, hành lang thoát lũ theo địa hình tự nhiên, các đoạn đường thường bị ngập nặng khi mưa lớn, cùng vị trí các điểm khảo sát (V1-V7) và cống thoát nước (C1-C4, C2). Người thành lập: Nguyễn Văn Liệt, Vũ Văn Vĩnh, tháng 8/2026. 

VXC11 thuộc bãi bồi cao của sông Long Thành. Bãi bồi cao có độ cao tương đối so với lòng sông 2-2,5m, rộng trên 25ha ở khu VXC11. Theo địa hình tự nhiên, bãi bồi cao thường bị ngập khi có lũ, ngập sâu vài chục cm, có thể đến 0,5-1m. Bãi bồi có bề rộng càng lớn, khẩu độ thoát lũ càng lớn, thoát lũ càng nhanh. Khẩu độ thoát lũ của sông Long Thành tính theo mặt cắt qua VXC11, ở độ sâu ngập lũ 0,5m, là trên 170m². Trong điều kiện tự nhiên, lũ có thể tập trung nhanh ở khu VXC11 nhưng do khẩu độ thoát lũ lớn nên mức ngập không sâu và thời gian ngập không kéo dài. Hiện trạng này, theo dân địa phương, là của khoảng thời gian trước năm 1982. 

Suối Cầu Vịt là phụ lưu của sông Long Thành, hội lưu với dòng chảy sông Long Thành tại điểm cách Cầu Quan 90m về phía Đông  (xem hình 2) 

Suối có diện tích lưu vực 180ha, độ dốc lưu vực 15 phần nghìn. Dòng chảy chính hướng Nam, dài 2000m: dốc 30 phần nghìn trên đoạn dài 650m ở phía Bắc; dốc 4,8 phần nghìn, phát triển bãi bồi cao, trên đoạn phía Nam. Dòng suối gần như song song với đường Bùi Văn Hòa, cách đường Bùi Văn Hòa 80-300m về phía Đông. Lũ theo suối có thể dâng nhanh nhưng thoát nhanh, gây ngập không đáng kể đối với đường Bùi Văn Hòa. 

Cách VXC11 về phía Tây 650m có 1 khe rãnh xâm thực nhỏ, dòng tạm thời, hướng Đông Nam, hội lưu với sông Long Thành, dài 1150m. Tính đến điểm giao với QL51 (tạm gọi là điểm V3), khe dài 940m, độ dốc 26 phần nghìn, bồn thu nước rộng 41ha. Trong điều kiện tự nhiên, đây là điểm tập trung nước mặt rất nhanh với khối lượng lớn nhưng thoát cũng rất nhanh, không gây ngập nặng. 

3.2) Khả năng tiêu thoát nước, ngập nước ở khu vực VXC11 theo các yếu tố địa hình do con người tạo ra 

Ở khu vực VXC11 có nhiều yếu tố do con người tạo ra làm thay đổi địa hình, nước chảy bề mặt, khả năng tiêu thoát nước, mức độ ngập lụt. Dưới đây là một số ví dụ minh chứng: 

Ví dụ 1: Cầu đường làm giảm mạnh khẩu độ dòng chảy lũ. Mặt Cầu Quan, mặt đường QL51 đoạn qua Cầu Quan có độ cao 3,2m so với lòng sông Long Thành, cao hơn bãi bồi cao khoảng 1m. QL51 ở đoạn này như đập chắn ngang thung lũng sông Long Thành. Gầm Cầu Quan cao 2,7m. Khẩu độ thoát lũ qua gầm cầu 24m², nhỏ hơn 7 lần khẩu độ thoát lũ tự nhiên của sông. QL51 đoạn này không bị ngập nhưng ngập ở phần phía thượng nguồn tăng thêm: ngập xuất hiện sớm hơn, sâu hơn, phạm vi rộng hơn, thời gian ngập dài hơn. Năm 2025 khu đông bắc Cầu Quan là nơi ngập nặng nhất (ngập sâu 0,5-0,7m trên bãi bồi cao). 

Ví dụ 2: Đường giao thông phân chia các vùng ngập lũ: Đại lộ Võ Nguyên Giáp có phương vĩ tuyến. Mặt đại lộ cao hơn bãi bồi cao khoảng 1m nên đại lộ như 1 đập ngăn, chia lũ. Dòng chảy lũ từ suối Cầu Vịt không thể chảy về phía Nam; lũ từ sông Long Thành không thể tràn về phía Bắc. Ở phía Nam ngập có phần giảm nhưng ngập ở phía Bắc - tại ngõ 1423 đường Bùi Văn Hòa, tại VXC11 - vốn đã trầm trọng, càng trầm trọng hơn trong những năm gần đây. 

Ví dụ 3: Các công trình xây dựng chặn dòng, đổi hướng dòng chảy, thay đổi phạm vi và mức độ ngập lụt: Dãy nhà dài trên 

200m ở phía Nam ngõ 1423 đường Bùi Văn Hòa như một đê ngăn lũ, buộc dòng chảy suối Cầu Vịt phải đổi hướng đột ngột tại điểm V1 (cách đường Bùi Văn Hòa 50m về phía Đông). Từ V1, dòng chảy đổi từ hướng Nam sang hướng Tây; đoạn suối chảy về phía Nam dài 420m bị chặn lấp hoàn toàn. Ngập do lũ sâu nhất tại V1, có kỳ đến 1,2m (xem hình 1, hình 2). Từ điểm V1, mực lũ dâng cao tràn về phía Tây, gây ngập lớn, ngập sâu, ngập nhiều lần trong năm trên đường Bùi Văn Hòa, VXC11. 

Ví dụ 4: Hệ thống mương cống thoát nước nhân tạo không tương thích với địa hình và dòng chảy của lưu vực: Để thoát nước, giảm ngập cho VXC11, đoạn phía Nam của đường Bùi Văn Hòa đã có 1 hệ thống mương hở kết hợp cống ngầm dài 520m, dẫn nước từ V1 ra sông Long Thành ở Sơn Tiên (điểm V5, xem hình 2). Mương được bê tông hóa, rộng 3-4m, cao 2,5-3,0m; thoát nước qua cống C1 trên đường Bùi Văn Hòa và cống C4 trên QL51, khẩu độ 5-6m². Mặt đường cao hơn đáy mương 2-2,6m. Với lưu vực thoát nước diện tích 180ha của suối Cầu Vịt, lũ không thể thoát kịp qua các cống có khẩu độ 5-6m², mương hẹp và đường cống nhỏ, dài. Khi có lũ, nước tràn qua miệng cống, dâng cao làm đường bị ngập sâu trong một vài giờ. 

Ví dụ 5: Ngập ở vị trí có điều kiện thoát ngập tốt: Điểm V3, như đã dẫn, là điểm nước mặt có khả năng tập trung nhanh, thoát nhanh với khối lượng rất lớn. Đã có 1 cống thoát nước (C3) ngang qua đường, đi qua điểm V3. Theo ông Hoàng (địa chỉ 580, QL51, phường Long Hưng), cống C3 bị các công trình phía trên che lấp, khó quan sát trực tiếp; khẩu độ ước tính khoảng 1,2m² - đây là số liệu quan sát sơ bộ, chưa đo đạc trực tiếp, cần khảo sát xác minh thêm. Nếu khẩu độ thực tế đúng như ước tính trên, hoặc thậm chí gấp 3-4 lần như vậy, thì khẩu độ đó vẫn chưa đủ để tiêu thoát kịp lượng nước tập trung nhanh từ bồn thu nước 41ha. Vì vậy, đoạn đường dài khoảng 300-400m đi qua điểm C3 luôn bị ngập sớm, ngập sâu, ngập lâu hơn; đường xuống cấp nhanh hơn các đoạn khác. 

3.3) Luận giải nguyên nhân gây ngập khu VXC11 

Trong điều kiện địa hình tự nhiên, trước năm 1982, VXC11 thuộc vùng thoát nước tốt, khẩu độ thoát nước rất rộng, lũ lên nhanh xuống nhanh, không bị ngập sâu, ngập lâu. Hiện trạng, diễn biến ngập lũ VXC11 xuất hiện rõ dần từ sau năm 1982, trở nên trầm trọng trong những năm gần đây. 

Để khắc phục, giảm thiểu mức độ ngập lụt, địa phương đã có các giải pháp như nạo vét, dọn rác ở các cống rãnh, hố ga thu, thoát nước; đặt lưới sắt trên các rãnh thu nước rộng 0,7m, sâu 0,7m, liên tục với nhiều đoạn dài hàng trăm mét dọc ven lộ. Đặc biệt, đã đầu tư hệ thống thoát nước chống, giảm ngập cho VXC11 từ điểm V1 đến Sơn Tiên (điểm V5). Tình trạng ngập có được cải thiện nhưng chưa đáng kể. 

Để luận giải nguyên nhân và mức độ ngập ở khu VXC11, bài báo lấy hiện trạng ngập ở Cầu Vịt (tên gọi theo dân địa phương) làm mô hình thực, mô hình cơ sở để so sánh. Cầu Vịt nằm trên đường Bùi Văn Hòa, đầu hẻm 1029, cách giao lộ QL51 với đường Bùi Văn Hòa 790m về phía Bắc, bắc qua 1 nhánh suối cạn. Tính từ đáy suối, gầm cầu cao 2,1m, mặt đường cao 2,7m; khẩu độ thoát nước qua cầu 17m². Tính từ đỉnh bồn thu nước đến cầu, dòng chảy dài 600m, diện tích lưu vực 21ha, chênh cao lưu vực 20m, độ dốc lưu vực 33 phần nghìn. Khi mưa lớn, cầu thường bị ngập nhanh, ngập sâu 30-50cm, ngập từ 30 phút đến hơn 1 giờ. 

Cầu Quan là điểm tụ thủy của lưu vực sông Long Thành, diện tích 3285ha, nhưng khẩu độ thoát nước hiện tại chỉ 24m². Cống C1 là điểm tụ thủy của lưu vực suối Cầu Vịt diện tích 180ha; C4 là cống thoát nước tiếp nối với cống C1, khẩu độ thoát nước hiện tại của cả hai chỉ 5-6m². Bồn thu nước với khe rãnh thoát nước qua điểm V3, diện tích 41ha, thoát nước qua cống có tiết diện tối đa ước tính 5m² (số liệu ước tính, xem lưu ý ở Ví dụ 5, mục 3.2). 

Tỷ lệ giữa diện tích lưu vực (ha) trên khẩu độ thoát nước (m²) phản ánh mức độ nghẽn dòng chảy tại từng điểm nút thoát nước: tại Cầu Vịt là 21/17 = 1,24; tại điểm V3 (cống C3) là 41/5 = 8,2 (dựa trên số liệu ước tính, độ tin cậy thấp hơn các điểm còn lại); tại cống C1, C4 trên đường Bùi Văn Hòa là 180/6 = 30; tại Cầu Quan là 3285/24 ≈ 137. (Hình 3)

Kết quả so sánh ở (Hình 3) cho thấy, tỷ lệ diện tích lưu vực/khẩu độ thoát nước càng lớn thì khả năng nước bị dồn ứ, dâng cao ở phía thượng nguồn của điểm nút thoát nước càng tăng. Riêng tại Đông Bắc Cầu Quan, do nằm ở hạ lưu, khẩu độ hẹp không gây ngập tại chỗ - đoạn QL51 qua Cầu Quan không bị ngập - nhưng lại là nguyên nhân chính khiến nước dồn ứ, dâng cao, gây ngập nặng hơn ở phía thượng nguồn, chính là khu vực VXC11. 

Như vậy, dòng chảy, mạng lưới dòng chảy mặt, khẩu độ thoát nước khu VXC11 đã thay đổi đáng kể do tác động nhân sinh làm thay đổi địa hình, khả năng tập trung và tiêu thoát nước mặt. Việc thu gom nước theo các rãnh, hố ga dọc ven lộ có thể tốt, nhưng khẩu độ tiêu thoát nước mặt tại các điểm nút quan trọng thường nhỏ hơn nhiều lần so với yêu cầu thoát nước tự nhiên của dòng chảy. Nước thoát không kịp tại các điểm nút đó bị dồn ứ, dâng cao, gây ngập - đó chính là nguyên nhân gây ngập. Thoát càng chậm, mức ngập càng cao, ngập càng kéo dài. 

4) Kết luận và đề nghị 

Nguyên nhân gây ngập VXC11 là do tác động nhân sinh: các công trình nhân tạo đã làm thay đổi địa hình, dòng chảy mặt, thu hẹp nhiều lần khẩu độ tiêu thoát nước mặt, tiêu thoát lũ so với yêu cầu thoát lũ của dòng chảy tự nhiên tại các nút thoát quan trọng. 

Để công tác chống ngập, giảm ngập ở khu VXC11 có hiệu quả thực sự, xuất phát từ căn nguyên gây ngập, đề nghị mở rộng khẩu độ thoát ngập, thoát lũ tại Cầu Quan, VXC11, điểm V3 cống C3 và các hành lang thoát lũ liên quan. 

Cụ thể: Tại Cầu Quan: mở rộng khẩu độ dòng chảy thêm về phía Đông Nam tối thiểu 100m đến điểm V7; nâng cấp cầu với độ cao gầm cầu trên 3,2m. Xây dựng 1 mương dẫn nước thoát từ V1 đến V6 và 1 cầu qua mương tại VXC11, khẩu độ thoát nước, thoát lũ tương ứng với lưu vực diện tích 180ha, độ dốc lưu vực 15 phần nghìn. Bổ sung 1 cầu hoặc cống thoát nước nhanh tại điểm C3, tương ứng với bồn thu nước diện tích 41ha, độ dốc 26 phần nghìn. 

Nước chảy bề mặt, dòng chảy mặt rất nhạy cảm với sự thay đổi của địa hình. Do tác động nhân sinh, điểm tụ thủy, mức độ tập trung nước, khả năng tiêu thoát nước, yêu cầu về khẩu độ và hành lang thoát nước có thể thay đổi rất đáng kể, tăng thêm nhiều lần [6]. Để chủ động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, nghiên cứu địa mạo thủy văn cần được coi là một nội dung cần thiết, quan trọng, không thể thiếu khi quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch, quản lý, chỉnh trang đô thị, xây dựng, giao thông, phát triển du lịch, thoát nước, chống ngập, đánh giá tác động môi trường. 

ThS. Nguyễn Văn Liệt, TS. Vũ Văn Vĩnh  

Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Đồng Nai 

(Đồng Nai, ngày 06 tháng 8 năm 2026). 

 

Tài liệu tham khảo:

1. Ảnh vệ tinh Google Earth đa kỳ từ tháng 2/2003 đến tháng 7/2026. 

2. Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, hệ UTM, tờ 6330-I (Biên Hòa), tháng 9/1974. 

3. Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000, hệ VN-2000, tờ C-48-34-B (Biên Hòa), C-48-35-A (Cam Tiêm), năm 2002. 

4. Bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2.000 khu Vòng xoay Cổng 11, năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường. 

5. Thông tin về ngập lụt ở Biên Hòa, QL51 từ năm 2016 đến tháng 6/2026 qua các trang Web: 

https://vietnamnet.vn/quoc-lo-51-chim-trong-bien-nuoc-giao-thong-un-tac-hang-km-2521674.html

https://baodongnai.com.vn/bandoc/202305/cuu-lay-dong-song-buong-3166102/

https://thiennhienmoitruong.vn/dong-nai-de-xuat-trien-khai-du-an-cai-tao-song-buong-chong-ngap-ung 

https://vnexpress.net/de-xuat-4-300-ty-dong-nao-vetsong-buong-chong-ngap-khu-vuc-bien-hoa-4939557.html 

https://tuoitre.vn/quoc-lo-51-qua-dong-nai-bi-nhanchim-sau-con-mua-dau-mua-20260528224635049.htm 

https://laodong.vn/xa-hoi/khac-phuc-diem-ngap-nuoctren-quoc-lo-51-trong-quy-iii2026-1720626 

https://nld.com.vn/clip-trung-tam-tp-dong-nai-ngap-sausau-mua-lon-196260601211117918.htm

https://vnexpress.net/quoc-lo-51-ngap-lut-banh-xe-saumua-lon-3992728.html 

https://vnexpress.net/quoc-lo-51-te-liet-hon-chuc-km-vimua-ngap-4508113.html

https://vnexpress.net/quoc-lo-51-thanh-song-sau-mualon-5080779.html 

https://vov.vn/xa-hoi/nuoc-ngap-sau-tai-khu-vuc-duan-cao-toc-bien-hoa-vung-tau-post1232263.vov

https://video.vnexpress.net/thoi-su/mua-lon-dau-muatuyen-pho-dong-nai-menh-mong-nuoc-3404034.html?

https://vnexpress.net/hanh-khach-day-oto-vuot-biennuoc-tren-quoc-lo-51-3475168.html

https://vnexpress.net/dong-nai-ngap-nang-sau-conmua-lon-trai-mua-3560800.html

https://vnexpress.net/nhieu-nha-dan-o-dong-nai-ngapnang-sau-mua-lon-3744079.html

https://vnexpress.net/hang-loat-xe-may-bi-song-danhnga-tren-duong-ngap-o-dong-nai-3812865.html

https://vnexpress.net/dong-nai-mua-lon-xe-chet-mayla-liet-tren-duong-ngap-3917711.html

https://vnexpress.net/nhieu-khu-dan-cu-dong-nai-ngapnang-sau-mua-3920718.html

https://vnexpress.net/nam-sinh-bi-nuoc-mua-cuonxuong-suoi-o-dong-nai-duoc-tim-thay-3920836.html

https://vnexpress.net/duong-pho-bien-hoa-roi-loan-vingap-4623845.html 

https://vnexpress.net/nuoc-chay-cuon-cuon-nhu-thactren-pho-4626568.html

https://vnexpress.net/nuoc-chay-xiet-tai-xe-dung-otochan-cho-dong-xe-may-qua-4940800.html

https://vnexpress.net/noi-kho-cua-nguoi-dan-noi-muangap-cuon-troi-xe-may-oto-4943030.html

https://vnexpress.net/nhieu-duong-o-dong-nai-ngapsau-sau-mua-lon4606493.html

[6]. Vũ Văn Vĩnh, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Hoàng Hùng, 1999. Tìm hiểu nguyên nhân ngập lụt, bồi tụ, xói lở tại các công trình khu đô thị Biên Hòa. Tuyển tập các báo cáo tại Hội nghị Khoa học Địa chất công trình và Môi trường Việt Nam. 

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây